We are A2!!!

We are A2, love A2, Miss A2 forever!!!
 
Trang ChínhPortalliCalendarTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýThành viênNhómĐăng Nhập

Share | 
 

 Danh nhân VN_WORLD

Go down 
Tác giảThông điệp
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Mon Mar 10, 2008 8:05 pm

NGUYỄN TRÃI(1380_1442 nhằm năm Canh Thân_Nhâm Tuất)
Nguyễn Trãi wê ở làng Nhị Khê , huyện Thượng Phúc , tỉnh Hà Đông ( nay là xã Wốc Túan , huyện Thượng Phúc thuộc Hà Tây ). ông là cháu ngoại wan tư Đồ Trần Nguyên Đán , tôn thất nhà Trần . Cha ông là danh sĩ Nguyễn Ứng Long ( còn gọi là Nguyễn Phi Khanh ) và mẹ là Trần Nhị Thái. Lên 5 tuổi (1385) mẹ mất , ông theo Trần Ng. Đán về Côn Sơn. Nhưng chẳng bao lâu thì ông ngoại (Trần Ng. Đán) wa đời (1390). Ng. trãi theo cha về wê nội ở làng nhị Khê.
Năm Canh Thìn (1400) đỗ Thái Học Sinh ( Tiến Sĩ ) lúc 20 tuổi . Được b0643 làm wan Ngự Sử Đài Chánh Chưởng , triều hồ. Cha ông cũng làm wan đồng triều, jữ chức Wốc tử Gíam tư Nghiệp . Năm Đinh Hợi (1407 ) , nhà Hồ sụp đổ , jặc Minh đặt ách đô hộ , Ng. Phi Khanh bị bắt giải về Kim Lăng ( Trung Wốc ) cùng cha con họ hồ & các triều thấn khác.Để jữ tròn chữ hiếu , ông wyết theo hầu cha dù pài lưu đày nơi xứ người ......
Đến ải Nam Wan , nhân lúc bọn lính áp giải nghỉ ngơi , Ng. Phi Khanh gọi con đến bên bảo : " Con là người học rộng tài cao , fải tỉm cách rửa nhục cho nước , trả thù cho cha , được dzậy mới là đại trung đại hiếu!". Nghe lời cha , ông way về, địng kế đánh giặc cứu nước.Đến thành Đông Wan ( Thăng Long ) ông bị jặc bắt . Jụ ông ra làm wan hok được, chúng bèn giam lỏng ông nơi đây , trong nhìu năm liền.....
Khi Lê lợi phất cờ khởi nghĩa thì ông được cứu thoát khỏi tay wân Minh, tìm đường dzào Lam Sơn tụ nghĩa. Tháng 2 năm Bính Thân (1416) Lê Lợi lập hội thề Lũng Nhai , và ông( Ng. Trãi) là 1 trong số 19 anh em huynh đệ cốt cán,thề đồng lòng chung sức đánh đuổi jặc thù, cứu nước cứu dân.
Suốt 10 năm kháng chiến chống jặc Minh,ông đã cống hiến bao công lao to lớn, góp fần wan trọng cho win, chứng tỏ mình là nhà wân sự lỗi lạc,nhà chính trị thiên tài, nhà ngoại jao xúc xích.
Năm Đinh Mùi (1427) ông là Tuyên Phụng Đại phu, Hàm Lâm Thừa Chỉ, nắm jữ khu Mật Viện, được Lê Lợi tin cậy lun jữ bên cạnh để bàn mưu tính kế.
Năm Mậu Thân(1428),Lê Lợi lên ngôi, fong ông chức Nhập Nội Hành Khiển, Lại bộ Thượng Thư,đứng đầu Văn wan,tước Wan Phục Hầu& được cải theo họ vua nên còn gọi là Lê Trãi.Khi vua Thái Tổ mất, Thái tông lên ngôi(1433_1442)lúc 10 tuổi, nên ông càng ra sức júp vua jữ vững ngôi báu nhà Lê, xây dựng đất nước cường thịnh...Tiếc thay, bọn gian thần lộng hành,lũng đoạn triều đình,gây bè kết fái chống lại ông . do chán nản, ông cáo wan dzề ở ẩn Côn Sơn( Chí Linh_Hải Dương).
7 năm sau(1439), ông nhận thức được tác hại nghiêm trọng của bọn wyền thần, bèn đích thân cải tổ triều chính,nắm lại wyền hành.Các wan bị án oan năm xưa đều được fục chức, Ng. Trãi lại được tin dùng.Vua xuống chiếu vời ông dzề triều(1440)fong chúc Kim Tử Vinh Lộc Đại phu -Hàn Lâm thừa chỉ học sĩ, coi việc Tam Wán( gồm :Chiêu văn Wán , Tập Hiền Viện & Sử wán__Là các cơ wan văn hóa GD thời Lê ), kiêm chức Hành Khiển Đông Bắc đạo,phụ trách việc wân dân trấn Hải Dương_An Wảng. Lúc này ông đã 60 tuổi.
2 năm sau(Nhâm tuất_1442), Tháng 8, vua Thái tông đột ngột băng hà( tại Trại Vải_Lệ Chi Viên). Đó là nơi wản lý của Ng. Trãi . Vua chết trong khi ngự duyệt binh ở thành Chí Linh & nghỉ đêm tại đoá.Do đó ông bị cáo buột tội jiết vua cùng người thiếp là Ng.T.Lộ(tức Nữ Wan Lễ Nghi Học Sĩ), khép dzào án "tru di tam tộc".
19/9/1442(nhằm 16/8 năm Nhâm Tuất)ông cùng toàn ja bị jiết.
Ông đã đề lại cho đời nhìu kiệt tác văn học :
__Bình Ngô Đại Cáo : thiên hùng dzăn bất hủ, là bàng tuyên ngôn độc lập lần 2 of nước ta.
__Wan trung Từ Mệnh tập:tập dzăn chính luận thư từđịch vận(hơn 70 bức).
__Dư Địa Chí:sách địa lý lịch sử đầu tiên of nước Đại Việt,viết dzề địa linh nhân kiệt,địa lý %hành chánh từng dzùng trên toàn lãnh thổ.
__Ức trai thi tập:tuyển tập thơ chữ Hán
_Wốc Âm thi tập:gồm những bài thơ chữ Nôm.
.............
Dzề sau,Lý Thái Tông xuống chiếu jải oan cho Ng. Trãi.Trong chiếu có câu mệnh đề:Ức Trai tâm thượngwang Khuê tảo(tức Tấm lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê)
Vua Lê Tương Dực fong ông làm Tế Văn Hầu(người dùng dzăn chương để kinh bang tế thế)
& Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc đại văn hào of nước ta được UNESCO công nhận là DHVH thế giới(1980).
Lễ kỉ niệm birthday of ông được tổ chức trang trọng tại nhìu wốc ja trên thế jới .
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
taitien
Bé tập đi
Bé tập đi
avatar

Tổng số bài gửi : 303
Age : 97
Location : Game
Registration date : 29/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Tue Mar 11, 2008 10:43 am

Hồ Chí Minh (chữ Hán: 胡志明; 19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) là một nhà cách mạng đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước Việt Nam. Ông là người viết và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Ông là Chủ tịch nước trong thời gian 1945-1969. Ông là người mà nhân dân Việt Nam ngưỡng mô và tôn sùng, ông là người được xây lăng ở Hà Nội, ông được xây nhiều tượng đài ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của ông được nhiều người dân treo trong nhà, và được in ở nhiều mệnh giá đồng tiền Việt Nam. Ông được coi và vị thánh và được thờ cúng ở hầu hết chùa Việt Nam.Tiểu sử

Gia đình và quê quán

Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Kim Liên tại Nam Đàn, Nghệ An thì:

"Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ năm, Nguyễn Sinh Vật là giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông) năm thứ ba..., tổ đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm[1])." Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rõ năm sinh, năm mất[2].

Ông tên thật là Nguyễn Sinh Cung (阮生恭, giọng địa phương phát âm là Côông), tự là Tất Thành. Quê nội là làng Kim Liên (tên nôm là làng Sen). Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên[3] là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố[4]. Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp[5].

Thân phụ ông là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ phó bảng[6]. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (1900-1901, tên khi mới lọt lòng là Xin).

Theo lý lịch chính thức, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tuy nhiên có những thông tin khác không đồng nhất:

* Trong đơn xin học Trường hành chính thuộc địa, năm 1911, ông tự ghi là sinh năm 1892.
* Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm 1894.
* Theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng làng Kim Liên, quê nội của ông, thì ông sinh tháng 4 năm 1894.
* Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895.

Tuổi trẻ
Trường Dục Thanh
Trường Dục Thanh

Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh và một số ông giáo khác. [7].

Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Tháng 9 năm 1907, ông vào học tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ[8]. Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình.

Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành[9][10]. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy và vào Sài Gòn. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Ở đây, ông được nuôi ăn nhưng chỉ học 3 tháng thì bỏ khi nhận ra rằng phải học 3 năm mới thành nghề.[11] Ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://epsvn.forumotion.com
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 7:46 pm

Phan Bội Châu


Nhà yêu nước lớn đầu thế kỷ XX




Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San), hiệu Hải Thụ, sau lấy hiệu là Sào Nam (và nhiều bút danh khác) sinh ngày 26-12-1867, quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ Tĩnh).
Lúc nhỏ, ông nổi tiếng thông minh. Sáu tuổi đã thuộc hết Tam tự kinh, bẩy tuổi đã hiểu kinh truyện, tám tuổi đã làm thông thạo loại văn cử tử. Mười ba tuổi, đi thi ở huyện đỗ đầu. Mười sáu tuổi, đỗ đầu xứ, nên cũng gọi là đầu xứ San.
Năm lên chín tuổi, ông đã có ý thức hưởng ứng phong trào của Trần Tấn, Đặng Như Mai, chống bọn thực dân. Mười bảy tuổi, được tin phong trào khởi nghĩa nổi lên ở Bắc kỳ, ông đã thảo bài hịch Bình Tây thu Bắc. Năm 19 tuổi hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi, ông tổ chức một đội thí sinh quân gồm 60 người lên đường ứng nghĩa, nhưng chưa kịp hành động thì địch đã về càn quét ở làng. Công việc không thành nhưng chí hướng cứu nước của ông đã rõ.
Tiếp đó, mười năm Phan Bội Châu làm ông đồ dạy học. Năm 1900, ông đỗ thủ khoa trường Nghệ và chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng. Phan lập ra Hội Duy Tân (1904), chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ, chủ trương bạo động và nhờ ngoại viện để khôi phục nền độc lập. Đầu năm 1905, ông sang Nhật rồi quay về dấy lên một phong trào Đông Du vào năm 1905-1908. Ông viết nhiều tác phẩm tuyên truyền cách mạng như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, v.v...
Lãnh đạo phong trào Đông Du, Phan Bội Châu đã tổ chức Công hiếu hội, tập hợp 200 lưu học sinh Việt Nam sang Nhật học tập chính trị, khoa học, quân sự. Những năm cuối cùng trên đất Nhật, ông lập ra các hội có tính chất "đoàn kết quốc tế", như hội Điền, Quế, - Việt liên minh (liên minh giữa những người Vân Nam, Quảng Tây với Việt Nam) và hội Đông á đồng minh (gồm một số người Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, ấn Độ, v.v...) để giúp nhau chống lại bọn đế quốc.
Khoảng tháng 3-1909, tổ chức Đông Du bị giải tán và Phan bị chính phủ Nhật trục xuất. Trở về ẩn náu tạm thời trên đất Trung Quốc ít lâu, Phan Bội Châu sang Xiêm hoạt động. Hơn một năm sau, khi cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, Phan lại trở về Trung Quốc và thành lập Việt Nam quang phục hội mà tôn chỉ duy nhất là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước "Cộng hòa dân quốc Việt Nam".
Sau những hoạt động yêu nước, Phan bị thực dân Pháp nhờ bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913.
Năm 1917, khi Phan Bội Châu ra tù, thì chiến tranh thế giới lần thứ nhất sắp kết thúc. ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi khắp thế giới, đã tác động lớn đến Phan Bội Châu. Cụ đã viết báo ca ngợi lãnh tụ Lênin vĩ đại, ca ngợi Nhà nước Công nông của Liên Xô, v.v... Những năm này tuy phải sống bằng nghề viết báo ở Hàng Châu, làm biên tập viên của tờ Bình sự tạp chí, nhưng Phan vẫn không quên lợi dụng báo chí để tuyên truyền chống Pháp và tiếp tục tìm đường cứu nước. Giữa năm 1924, phỏng theo Trung Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, Phan Bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Tháng 12-1924, sau khi được tiếp xúc với Nguyễn ái Quốc, Phan dự định sang năm sau (1925) sẽ cải tổ lại Việt Nam quốc dân đảng theo hướng tiến bộ nhất. Nhưng ngày 30-6-1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu để nhóm họp anh em, Phan Bội Châu vừa đến ga bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước. Chúng âm mưu bí mật thủ tiêu Phan Bội Châu, nhưng việc bị bại lộ, nên phải đưa ra xử ở Tòa đề hình Hà Nội. Tính mạng "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng" (1) bị uy hiếp, gây ra một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước. Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ đó, thực dân Pháp bối rối, phải tuyên bố tha bổng nhưng bắt Phan phải về sống ở Huế mà không được đi bất cứ đâu.
Từ năm 1926 trở đi, Phan Bội Châu là người tù bị giam lỏng ở Bến Ngự. Đến đây, cuộc đời hoạt động cách mạng nguyện hiến dâng tất cả cho Tổ quốc của Phan Bội Châu phải bỏ dở. Phong trào cách mạng Việt Nam theo đà phát triển mới của lịch sử tiến như vũ bão. Mặc dù "Ông già Bến Ngự" phải sống cuộc đời "cá chậu chim lồng" nhưng cụ vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước... Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên... Phan Bội Châu niên biểu, Lịch sử Việt Nam diễn ca. Đó cũng là các công trình biên khảo hết sức đồ sộ như Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội chủ nghĩa, Chu dịch, Nhân sinh triết học, cùng với trên 800 bài thơ nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn khác.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 7:52 pm

Phan Châu Trinh (chữ Hán: 潘周楨; còn được gọi Phan Chu Trinh; 1872–1926) là một nhà thơ, nhà văn, chí sĩ yêu nước thời cận đại của Việt Nam, người mở đầu cho phong tr[sửa] Tiểu sử
Phan Châu Trinh còn có hiệu là Tây Hồ, Hy Mã , tự là Tử Cán. Ông sinh năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh là Phan Văn Bình, một võ quan nhỏ, từng tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm chuyển vận sứ phụ trách việc quân lương, nhưng về sau trở thành nạn nhân của sự chia rẽ nội bộ.

Năm 1888, thân phụ ông mất khi ông mới 16 tuổi. Năm 1892, ông đi học và nổi tiếng học giỏi. Bạn cùng học với ông là Huỳnh Thúc Kháng (kém ông 4 tuổi).

Năm 1900, ông đỗ Cử nhân. Năm 1901, ông đỗ Phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và Nguyễn Sinh Sắc. Năm 1902, ông vào học Trường Hậu bổ, sau ra làm Thừa biện Bộ Lễ. Ít lâu sau ông bỏ quan, hoạt động cứu nước. Ông kết giao vơi nhiều sĩ phu yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu. Ông và Phan Bội Châu tâm đắc về nhiệt huyết cứu nước, nhưng ông không tán thành đường lối của Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đấu tranh vũ trang chống Pháp. Ông cùng các bạn đi khắp Việt Nam cổ vũ đấu tranh và liên kết trí thức, văn sĩ yêu nước. Năm 1905, ông sang Nhật Bản rồi sang Pháp chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách, thực hiện tự do dân chủ, lật đổ chế độ phong kiến, làm cho dân giàu, nước mạnh, tiến lên giải phóng dân tộc.

Năm 1906, ông bí mật sang Nhật Bản gặp Phan Bội Châu, khởi xướng duy tân, cải cách nước nhà. Sau khi về nước, ông ra sức tuyên truyền chủ trương cải cách của mình và đã trở thành một trong những người lãnh đạo xu hướng cải lương hồi đầu thế kỷ 20.

Tháng 7-1907, Phan Châu Trinh ra Hà Nội tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục, những buổi diễn thuyết của ông có rất đông người đến nghe. Ông mở rộng giao du với cả một số người Pháp.

Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội và phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ nổ ra và bị thực dân Pháp đàn áp, ông bị bắt đày ra Côn Đảo. Đến năm 1910, nhờ có Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả lại tự do, nhưng bị quản thúc tại Mỹ Tho. Tuy nhiên, ông viết thư cho Toàn quyền đòi được sang Pháp hoặc trở lại Côn Đảo, nhất định không chịu cảnh bị giam lỏng ở Mỹ Tho. Vì vậy, nhân dịp có nghị định ngày 31 tháng 10 năm 1908 của chính phủ Pháp về việc lập một nhóm giảng dạy tiếng Hán tại Pháp, năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai là Phan Châu Dật.

Sang Pháp, ông ở nhà luật sư Phan Văn Trường, mở một hiệu sửa ảnh, sống thanh bạch (Nguyễn Tất Thành cũng từng làm việc tại cửa hiệu của ông). Ông tìm cách liên hệ với những người trong Liên minh Nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp. Ông cũng có những cuộc tiếp xúc với các nhóm Việt kiều và các đảng phái tiến bộ, thảo luận vấn đề độc lập, tự do, dân chủ. Năm 1914, ông lại bị bắt giam vì tình nghi có liên hệ với nước Đức. Nhờ sự can thiệp của Đảng Xã hội Pháp, nên ông mới được thả ra.

Ngày 19 tháng 6 năm 1919, ông cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn "Bản Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc, làm nổ ra "quả bom chính trị" chấn động tại nước Pháp.

Năm 1922 khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài buộc tội Khải Định 7 điều và khuyên vua về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể (quen gọi là Thất Điều Trần hay Thư Thất Điều).

Năm 1925, ông về Sài Gòn tiếp tục hoạt động theo xu hướng cải lương, kêu gọi dân quyền, dân sinh, dân khí.

Ông mất ngày 24 tháng 3 năm 1926 tại Sài Gòn. Sau khi mất, tinh thần yêu nước của ông vẫn cổ vũ phong trào trong nước, đặc biệt là trong thanh niên, học sinh đã dấy lên phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh. Lễ tang ông được nhân dân tổ chức rất trọng thể ; bất chấp sự ngăn cản của thực dân, cả nước dấy lên phong trào làm lễ truy điệu Phan Châu Trinh , là một sự kiện chính trị nổi bật lúc bấy giờ . Trong bài thơ thương tiếc ông của Phan Bội Châu có đọan :

Cờ xã hội những toan lên thẳng bước
Gánh giang sơn chẳng chút chiụ nhường ai
Đau đớn thay! Trời chẳng chìu người,
Người bước tới mà trời giằng kéo lại
Công nghiệp sống chưa ra vòng thất bại
Tuổi chết nay đã trải chẵn muời năm
Nhớ bạn xưa khôn nỡ khóc thầm
Một hàng chữ gởi thôn tâm cùng thiên cổ!
Kẻ tiền đạo ấy ai là người hậu lộ? [1]
Lăng mộ của ông hiện ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Nhiều đường phố, trường học đã mang tên ông: phố Phan Chu Trinh ở Hà Nội, phố Phan Chu Trinh ở Hội An; gần đây có Đại học Phan Châu Trinh tại số 2 Trần Hưng Đạo-Hội An-Quảng Nam.

Chủ trương cách mạng
Mặc dù rất đau xót trước cảnh người Pháp ngược đãi người Việt Nam, quan điểm của Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, mà nhiệm vụ cấp bách là phải:

Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.
Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế.
Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa...
Phan Châu Trinh yêu cầu chính quyền thuộc địa sửa đổi chính sách cai trị hiện hành để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng bước tiến đến văn minh. Ông đề cao phương châm "Tự lực khai hóa", vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền.

Phan Châu Trinh rất hoan nghênh việc Phan Bội Châu đã vận động được một số học sinh ra nước ngoài học tập và phổ biến những tài liệu tuyên truyền giáo dục quốc dân trong nước. Song, ông phản đối chủ trương bạo động và tư tưởng bảo hoàng của Phan Bội Châu.

Trong thư gửi cho Toàn quyền Beau đề ngày 15 tháng 8 năm 1906, Phan Châu Trinh chỉ trích chính phủ Pháp không lo mở mang khai thác hóa cho dân mà chỉ lo thu thuế cho nhiều, do đó dân đã khổ càng khổ hơn. Ông đề nghị chính phủ Đông Dương nên thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Nam, cải tổ mọi chính sách cai trị. Bức thư đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân, công khai nói lên tâm trạng bất mãn của dân chúng và khẳng định quyết tâm cải biến hiện trạng của đất nước.

Ông cũng viết bản điều trần về cuộc đấu tranh chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung Việt Nam gửi Liên minh Nhân quyền.

Cũng trong thời gian này, ông viết Pháp-Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam, cho rằng không thể nhìn Việt Nam một cách cô lập mà phải đặt trong mối quan hệ với thế giới, trước nhất là với các nước mạnh và với nước Pháp, cũng như không thể chỉ nhìn hiện tại mà phải nhìn lại lịch sử đã qua và phải tìm hiểu xu thế phát triển sắp tới, tạo nên cách nhìn cả thời lẫn thế.

Nhận định
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.

Đặc biệt hơn nữa là con đường ông chọn là con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Đây là điểm khác biệt giữa ông và Phan Bội Châu.

Phan Châu Trinh xem vấn đề dân chủ còn cấp bách hơn độc lập và tin rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ để quét sạch những hủ bại của phong kiến.

Với tinh thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ.

Tác phẩm
Tây Hồ thi tập,
Santé thi tập (gồm hơn 200 bài thơ);
Thư thất điều (thư vạch 7 tội của vua bù nhìn Khải Định);
Giai nhân kỳ ngộ diễn ca;
Tỉnh quốc hồn ca I, II (thơ hiệu triệu, thức tỉnh đồng bào, tạo dân khí mạnh, đề cao dân quyền);
Trung Kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký;
Các bức thư gửi Toàn quyền Beau, gửi Nguyễn Ái Quốc, gửi người học trò tên Đông, và các bài diễn thuyết về "Đạo đức và luân lý Đông Tây", về "Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa". ào Duy Tân và có công lớn trong việc lập Đông Kinh Nghĩa Thục
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 7:53 pm

Quang Trung Nguyễn Huệ (1752-1792)

Nguyễn Huệ sinh năm Quý Dậu (1752), là em của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Khi còn nhỏ, Nguyễn Huệ thường được gọi là chú Thơm, là em thứ hai trong nhà. Trong ba anh em, Nguyễn Huệ có nhiều đặc điểm nổi trội nhất: tóc quăn, tiếng nói sang sảng như chông, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối.

Dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, ông được phong làm Long Nhương tướng quân khi mới 26 tuổi. Là một tay thiện chiến, hành quân chớp nhoáng, đánh đâu được đấy, Nguyễn Huệ nhanh chóng trở thành vị tướng trụ cột của vương triều Tây Sơn. Khi mà vua Thái Đức đang phải lo củng cố xây dựng triều đình, thì Nguyễn Huệ là người được trao cầm quân đánh Đông dẹp Bắc. Tất cả những chiến thăng lớn vang dội của quân Tây Sơn đều gắn liền với tên tuổi của vị tướng trẻ tài ba này.
Đem quân ra Thăng Long lật nhào họ Trịnh chuyên quyền, Nguyễn Huệ tỏ ý tôn phò nhà Lê. Cùng với thuộc tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vào điện Vạn Thọ tiếp kiến vua Lê. Lê Hiển Tông trân trọng mời Nguyễn Huệ ngồi ở sập bên giường ngự mà hỏi thăm yên ủi. Nguyễn Huệ thưa:

- Tôi vốn là kẻ áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế mà nổi dậy. Bệ hạ tuy không cho cơm ăn, áo mặc, nhưng tôi ở cõi xa, bấy lâu vẫn kính mến thánh đức. Bữa nay được nhìn thấy mặt trời, đủ thoả được tấm lòng khao khát. Họ Trịnh vô đạo, hiếp đáp hoàng gia, nên trời mượn tay tôi một trận phá ngay được, ấy là nhờ ở oai đức của bệ hạ.
Vua Lê ôn tồn đáp:

- Ấy là võ công của tướng quân cả, chứ quả nhân nào có tài đức gì!
Nguyễn Huệ khiêm tốn thưa:

- Tôi chỉ tôn phò, đau dám kể tới công lợi. Việc ngày nay đã xảy ra như thế thật bởi lòng trời xui nên hết thảy... Thế là trời có ý xui bệ hạ chấn kỷ cương, nảy mực, khiến cho trong ấm ngoài êm, tôi đây cũng được ơn nhờ.

Vua Lê sai các cựu thần Trần Công Sáng, Phan Lê Phiêu, Uông Sĩ Điển ra tiếp chủ suý Tây Sơn. Sau cuộc gặp gỡ này, thiên hạ yên lòng, chợ lại họp, ruộng lại cày, tình hình trong nước dần dần ổn định.
Theo lời Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ vẽ, Nguyễn Huệ xin vua Lê cho thiết lễ đại triều ở điện Kính Thiên để Huệ dâng sổ sách quân dân, tỏ cho toàn thiên hạ rõ việc tôn phò đại thống. Cử chỉ này của Nguyễn Huệ khiến ông vua cao tuổi Lê Cảnh Hưng vô cùng xúc động, chứng kiến việc ban bố chiếu thư "nhất thống".

Đáp lại công lao của chủ súy Tây Sơn, vua Lê sai sứ sang tận doanh quân thứ phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyễn Súy Dực chính phù vận Uy Quốc công. Nguyễn Huệ sai người sang cảm tạ vua Lê theo đúng lễ nhưng trong lòng không vui. Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Hửu Chỉnh rằng:

- Ta mang vài vạn quân ra đây, một trận dẹp yên Bắc Hà. Vậy thì một thước đất, một người dân bây giờ không phải của ta thì của ai vào đây nữa? Dẫu ta muốn xưng đế, xưng vương chi chi, ai còn dám làm gì nổi ta? Thế mà ta còn nhường nhịn không làm, chẳng quan hậu đãi nhà Lê đó thôi, danh mệnh Nguyên súy, quốc công có làm cho ta thêm hơn gì? Các đình thần Bắc Hà muốn lấy nước miếng cho cái danh hão, chực lung lạc ta sao? Đừng bảo ta là mán mọi, được thế đã lấy làm vinh rồi đâu! Ta không nhận lấy, chắc người ta bảo ta thất lễ; ta nhận mà không nói ra, người ta lại cho ta là không biết gì!

Dứt lời, Nguyễn Huệ hầm hầm tức giận. Nhờ có Nguyễn Hữu Chỉnh là tay khéo dàn xếp, Huệ mới nguôi lòng. Sau khi trở thành phò mã nhà Lê, Nguyễn Huệ không trực tiếp can dự vào nội bộ triều Lê vì còn giữ tiếng. Khi vua Lê bị bệnh nặng, công chúa Ngọc Hân giục phò mã Nguyễn Huệ vào thăm song ông từ chối:

- Tôi chẳng sớm thì chầy rồi cũng về Nam; việc nước không dám dự đến. Vả, tôi xa xôi tới đây, chắc người ngoài Bắc hãy còn chưa tin mấy, nếu vô nội thăm hỏi vua cha, muôn một xa giá chầu Trời, chẳng hóa ra tự mình chuốc lấy cái tiếng hiềm nghi không bao giờ giãi toả được?"
Vào một đêm mưa to, gió dữ của tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thành Thăng Long nước ngập đến một thước, vua Lê Cảnh Hưng qua đời ở tuổi thọ 70. Trước khi nhắm mắt ông còn kịp trối lại cho Hoàng tôn Duy Kỳ:

- Quân bên ngoài đang đóng ở đây; truyền nối là việc quan trọng, cháu nên bàn cùng Nguyên suý (Nguyễn Huệ), chứ đừng tự tiện làm một mình.
Trái với những người muốn lập Hoàng tôn Duy Kỳ, công chúa Ngọc Hân khi được chồng hỏi nên lập ai lên ngôi báu, đã nghiêng về Lê Duy Cận. Nghe lời vợ, Nguyễn Huệ muốn hoãn lễ đăng quang của Duy Kỳ. Cả triều đình nao núng ngờ vực. Các tôn thất nhà Lê cho rằng công chúa Ngọc Hân cố tình làm lỡ việc lớn của triều đình và bảo sẽ từ mặt công chúa. Ngọc Hân sợ, vội nhân nhượng mà nói lại với Nguyễn Huệ thu xếp cho Duy Kỳ được nối ngôi.

Đến ngày lễ thành phục của nhà vua quá cố Lê Hiển Tông ở nội điện, Nguyễn Huệ thực hiện đầy đủ nghi lễ của phò mã: rể mặc áo tang trắng, đứng trong điện dự lễ. Thấy viên tiểu lại có cử chỉ bất kính trọng lúc làm lễ, Nguyễn Huệ lập tức sai lôi ra chém. Từ đó triều thần khiếp sợ và nghi lễ được cử hành hết sức tôn nghiêm. Ngày đưa linh cữu vua xuống thuyền về Thanh Hoá để an táng, Nguyễn Huệ mặc tang phục đi hộ tang đến tận bờ sông, lại sai bộ tướng là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Hữu Chỉnh mặc áo tang trắng đi hộ tống đến tận bến sông, lại sai bộ tướng là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Hữu Chỉnh mặc áo tang trắng đi hộ tống đến lăng Bàn Thạch. Mặc dù vừa mới trải qua binh đao, tang phục tuy đơn sơ, giản dị nhưng lễ nghi thì đầy đủ và trang trọng khác thường. Xong tang trở về, Nguyễn Huệ tự hào nói với công chúa Ngọc Hân:

- Tiên đế có hơn 30 người con, thế mà không người nào bằng một mình nàng là gái. Trong việc tang tiên đế, mình với các anh em khác, ai hơn nào?

Một thời gian sau Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hân cùng Nguyễn Nhạc rút quân về Nam, rồi được phong làm Bắc Bình Vương.

Lần ra Bắc lần thứ hai năm Mậu Thân (1788), khi Lê Chiêu Thống đã bỏ kinh thành chạy ra ngoài, Bắc Bình Vương cũng đã nghĩ đến chiếc ngai vàng bỏ trống, đã triệu tập các cựu thần nhà Lê để tính việc, song không thuận lợi. Ông cho tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa những danh sĩ có tên tuổi đã được Bắc Bình Vương trọng dụng như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích ra đảm đương công việc. Trí thức Bắc Hà lần lượt ra giúp Bắc Bình Vương như Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn...
Sau khi đãlập Sùng Nhượng công Lê Duy Cận lên làm Giám quốc, sắp đặt các quan coi việc Bắc Hà, một lần nữa Nguyễn Huệ lại rút quân về Nam. Trước khi trở về Nam, Bắc Bình Vương đã dặn bảo cận thần rằng:

- Đại Tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân là nanh vuốt của ta; Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Hộ bộ thị lang Trần Thuận Ngôn là tâm phúc của ta. Lại bộ thị lang Ngô Thì Nhậm tuy là người mới, nhưng là bậc tân thần, ta coi như khách. Nay ta giao cho các khanh hết thảy mọi việc quân quốc, coi quản 11 trấn trong toàn hạt. Hễ có điều chi, ta cho cứ được tiện nghi làm việc. Song các khanh cần phải hợp bàn với nhau, chứ đừng phần bì kẻ mới người cũ, miễn sao làm cho được việc, ta mới yên lòng...

Thế rồi không đầy 6 tháng sau, Bắc Bình Vương đang ở thành Phú Xuân thì được tin Lê Chiêu Thống đã dẫn đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long, quân đội Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy phải tạm rút lui về đóng ở Tam Điệp-Biện Sơn chờ lệnh. Nguyễn Huệ lại lần thứ ba ra Thăng Long. Lần này ông ra Bắc với tư cách là Quang Trung hoàng đế. Thể theo lời khuyên của tướng lĩnh và lòng mong mỏi của ba quân cùng thần dân, Bắc Bình Vương cho chọn ngày, lập đàn tế trời đất, thần sông, thần nước và lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân, ngay hôm đó kéo cả quân bộ, quân thuỷ ra Bắc diệt quân xâm lược Thanh, giải phóng Thăng Long và Bắc Hà.

Dự tính trước mọi khả năng tiếp theo của thời cuộc, vua Quang Trung đã nõi với quan quân ngay trước khi bước bào chiến dịch:

- Nay ta tới đây, thân đốc viện binh, chiến thư ra sao đã có phương lược sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh. Song, ta nghĩ: nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần, Thanh bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc trăm họ, lòng ta không nỡ! Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh, việc từ lệnh đó, ta sẽ giao cho Ngô Thì Nhậm.

Đúng như dự kiến và lời hứa hẹn của vị tổng binh, ngày 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân đội của hoàng đế Quang Trung đã vui vẻ ăn tết khai hạ tại thành Thăng Long. Hoa đào làng Nhật Tân còn đang nở rộ đón chào chiến thắng.

Việc binh lại giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân, việc ngoại giao và chính trị giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, lần thứ ba Nguyễn Huệ đã ra Bắc rồi lại về Nam. Lần này với tư thế là Hoàng đế, Quang Trung gấp rút tiến hành việc xây dựng kinh đô mới ở Nghệ An, nơi mà từ xưa là quê gốc của anh em Tây Sơn và trong con mắt của Quang Trung là trung gian Nam và Bắc. Mặt khác, theo kế hoạch ngoại giao đã được Quang Trung vạch ra: bình thường mối bang giao với nhà Thanh. Triều đình Quang Trung đã buộc sứ Thanh phải vào tận Thuận Hoá phong vương cho Nguyễn Huệ; rồi Hoàng đế Quang Trung giả đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long nhà Thanh. Dưới thời trị vì ngắn ngủi của triều Quang Trung, nhiều chính sách về xã hội, chính trị và kinh tế được ban hành khá độc đáo, mở ra những triển vọng cho một xã hội năng động hơn. Song chưa được bao lâu, căn bệnh đột ngột và hiểm nghèo đã cướp đi cuộc sống của ông vua đầy tài năng, có những dự định lớn lao, mới ở tuổi 40.

Năm Nhâm Tý (1792), sau nhiều lần bắn tin rồi lại gửi thư trực tiếp đến vua nhà Thanh xin được sánh duyên cùng một nàng công chúa Bắc quốc và mượn đất đóng đô, vua Quang Trung đã sai toàn sứ bộ do Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Thanh Càn Long. Trong một cuộc bệ kiến của sứ thần Vũ Văn Dũng ở Ỷ lương các, những yêu cầu của vua Quang Trung đã được vua Thanh chấp thuận. Vua Càn Long đang chuẩn bị cho cô công chúa khuê các sang đẹp duyên cùng Quốc vương nước Nam; Quảng Tây được hứa sẽ nhường cho Quốc vương phò mã đóng đô để cho gần "Thánh Giáo". Giữa lúc sứ thần đang mừng vui vì sắp hoàn thành một trọng trách quá sức mình, thì được tin sét đánh: vua Quang Trung từ trần. Mọi việc đều bị gác lại, Vũ Văn Dũng đành ôm hận trở về. Rồi từ đó, việc xin lại đất Lưỡng Quảng chỉ là câu chuyện lịch sử mà cơ đồ của vương triều Tây Sơn cũng dần dần tan theo giấc mộng xuân của nàng công chúa Mãn Thanh. Một chiều đầu thu, vua Quang Trung đang ngồi bỗng thấy hoa mắt, sầm tối mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi đó là chứng "huyễn vận" còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não. Khi tỉnh dậy được, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Nghệ An. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình nhà vua đã nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

- Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử "Nguyễn Quang Toản" tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Ánh) là quốc thù; mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!

Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya, Quang Trung từ trần, ở ngôi 5 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế. Thi hài ông được táng ngay trong thành, tại phủ Dương Xuân. Sau khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân đã sai quật mồ mả lên để trả thù.
Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Vua Càn Long thương tiếc tặng tên hiệu là Trung Thuần, lại thần làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
Blo0d_3Vil
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 681
Age : 24
Location : Quy Ẩn Giang Hồ
Registration date : 29/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 8:20 pm

Thay' pac' Vit. tich' cuc. we'... Pac' la` who????:hut:

_________________
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Noname is needed
Bé tập quậy
Bé tập quậy
avatar

Tổng số bài gửi : 818
Age : 109
Location : Dog-house
Registration date : 24/01/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 8:32 pm

Bác Vịt nhà mìh có bản tự giới thịu đó zô coai đi Kiss .Very Happy

_________________
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Blo0d_3Vil
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 681
Age : 24
Location : Quy Ẩn Giang Hồ
Registration date : 29/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Sun Mar 16, 2008 8:36 pm

coa' thay' dau??? confused

_________________
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Mon Mar 17, 2008 7:20 am

Tự jới thiệu:
Tao(pác của tụi bây):pé Ngọc(hàng xóm a1)
*****CẢNH CÁO 2 TÊN:Nonamed+NeverBeenKissed
_Tao coòan wé trẻ(mới bằng tuổi tụi pây)mà kêu tao bằng pác.
_Bộ mấy you hẻm đọc dzõ tên tui hả?: ngừ ta coàn là vitcon mờ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
Noname is needed
Bé tập quậy
Bé tập quậy
avatar

Tổng số bài gửi : 818
Age : 109
Location : Dog-house
Registration date : 24/01/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Mon Mar 17, 2008 9:07 am

Zạ, Chúng cháu sẽ hok gọi pác là pác vịt đâu pác vịt ạ !! ^^ lol!

_________________
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
taitien
Bé tập đi
Bé tập đi
avatar

Tổng số bài gửi : 303
Age : 97
Location : Game
Registration date : 29/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Mon Mar 17, 2008 9:41 am

thế mún tụi này kiu = j



chị
pác
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://epsvn.forumotion.com
Blo0d_3Vil
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 681
Age : 24
Location : Quy Ẩn Giang Hồ
Registration date : 29/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Mon Mar 17, 2008 10:38 am

AAAAAA! mấy đứa nài bắt chước teo hok!! thấy teo gọi = pác cũng gọi theo!! đáng chít đáng chít
~taitien: kêu = Vịt

_________________
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Kathy_kute_girl
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 95
Age : 24
Location : iêu Sang n0k !
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Danh nhân VN_WORLD   Sat Apr 05, 2008 10:04 pm

Mấy cháu của Pác. Hiện jờ pác coàn trẻ lắm nha' , nhưng mà đã là " pác " thì fải đối xử tử tế với mấy cháu :leu: :leu: :leu: Thế " pác" cho fép mấy cháu gọi pác bằng " em " ( chị củn đc nhưng tui hẻm khóai làm chị ) .
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/peshinng0k_peshinchanh
King_Pin
Bé sơ sinh
Bé sơ sinh
avatar

Tổng số bài gửi : 68
Registration date : 11/01/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   Sat May 24, 2008 11:32 am

oj choj` oj ghet nhut mon ljch xu~>>> ljch xu~ :thayghet:
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Danh nhân VN_WORLD   

Về Đầu Trang Go down
 
Danh nhân VN_WORLD
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Danh mục thiết bị thông tin và liên lạc hàng hải
» Danh mục Cảng vụ Việt Nam
» Danh mục các từ viết tắt sử dụng trong các công ước IMO
» Danh mục các hãng tàu biển tại Việt NAm

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
We are A2!!! :: Góc thư giãn :: Truyện-
Chuyển đến